Cơ chế tác dụng của phụ gia chậm ninh kết?

Theo thuyết của Hansen, các chất làm lắng đọng trên bề mặt các hạt ximăng chưa thuỷ hoá nhờ sự hấp phụ ion, các liên kết hiđro hoặc lưỡng cực sẽ tạo ra màng chắn ngăn cản tác dụng của nước, nhờ đó quá trình thuỷ hoá của xi măng bị chậm lại. Tuy nhiên, thuyết này có nhiều điểm không phù hợp với thực tế. Khi sử dụng các dung môi không phải là nước người ta thấy rằng bề mặt khoáng C3A và C3S chưa thuỷ hoá không hấp phụ phụ gia làm chậm lignosunfonat, trong khi sản phẩm thuỷ hoá của khoáng đó hấp phụ một lượng đáng kể.

Thuyết nhiễm độc của Young cho rằng phụ gia bị hấp phụ trên bề mặt các mầm tinh thể Ca(OH)2 làm nhiễm độc các tinh thể đó và ngăn cản sự phát triển của chúng. Sự cản trở này diễn ra cho đến khi đạt được mức bão hoà nhất định. Thuyết của Young chú ý đến sự hấp phụ phụ gia trên bề mặt Ca(OH)2 nhiều hơn so với các sản phẩm thuỷ hoá khác. Nhiều tác giả cho đây là một chỗ yếu của thuyết này. Thực nghiệm cho thấy chỉ nhiễm độc thôi cũng chưa đủ để làm chậm quá trình thuỷ hoá. Có những chất có thể ngăn cản sự phát triển tinh thể Ca(OH)2 nhưng lại không gây tác dụng làm chậm thuỷ hoá của ximăng. Thực nghiệm chứng minh rằng khoáng C3S thuỷ hoá hấp phụ mạnh lignosunfonat canxi. Hợp chất lignosunfonat trên bề mặt C3S thuỷ hoá ngăn cản tác động của nước và làm chậm quá trình thuỷ hoá. Hầu hết các chất làm chậm mạnh có chứa nguyên tử ôxy, có khả năng phân cực mạnh ví dụ như đường, muối phốt phát... Các nguyên tử ôxy này có thể nằm trong thành phần của nhóm OH-, COOH hoặc CO...


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: